
Xin cho hỏi cách tính giá xuất xưởng như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của EU giá xuất xưởng có nghĩa là giá trả cho người sản xuất có trách nhiệm tiến hành giai đoạn sản suất hoặc gia công cuối cùng, khi giá đó bao gồm trị giá của tất cả nguyên phụ liệu sử dụng trong sản xuất, trừ đi mọi khoản thuế mà được, hoặc có thể được hoàn trả khi sản phẩm làm ra được đem xuất khẩu;
Sản phẩm của công ty tôi phải đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa theo quy định của EU nhưng có bộ phận trùng mã HS xin cho hỏi có sự nới lỏng nào trong quy tắc xuất xứ không?
Trả lời:
Theo quy định của EU về quy tắc xuất xứ hàng hóa thì những nguyên liệu không có xuất xứ có thể được sử dụng trong sản xuất của một sản phẩm kể cả khi nó không đáp ứng được quy tắc trong danh sách gia công hoặc chế biến đầy đủ, chỉ cần tổng giá trị của chúng không vượt quá 10% của giá thành xuất xưởng của sản phẩm (điều khoản này khôngáp dụngvới vải dệt và sản phẩm may mặc. Tuy nhiên những quy tắc khoan dung cụ thể cho mặt hàng này được ghi rõ tại Phụ lục 14).
Ví dụ: một con búp bê (phân loại HS 9502) sẽ đạt tiêu chuẩn nếu nó được sản xuất từ những nguyên liệu nhập khẩu được phân loại trong một chươngkhác. Điều này nghĩa là nhà sản xuất của nước hưởng ưu đãi được phép nhập khẩu nguyên liệu thô như nhựa, vải, v…v… được xếp vào những chương khác của HS. Nhưng sự sử dụng những bộ phận của búp bê (ví dụ mắt búp bê) thường thì không được phép vì chúng được xếp vào cùng một chương (HS 9502). Tuy nhiên, quy tắc khoan dung cho phép sử dụng những bộ phận này nếu tổng của chúng không vượt quá 10% giá trị con búp bê.
Quy tắc lãnh thổ và vận chuyển?
Trả lời:
Quy tắc lãnh thổ và vận chuyển trực tiếp nhằm đảm bảo cho hàng hoá có xuất xứ được xuất khẩu từ một nước hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập thực sự có nguồn gốc tại đó và chúng được vận chuyển đến điểm đến trong EC mà không bị thay thế, sửa đổi hoặc làm biến dạng theo bất cứ cách nào. Sự tuân theo những quy tắc này, vì thế, là một điều kiện để được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan.
Nguyên lý của tính lãnh thổ nghĩa là quá trình gia công và chế biến phải diễn ra liên tục tại lãnh thổ của nước hưởng ưu đãi đang được xem xét, trừ phi cộng gộp khu vực được áp dụng – khi mà những nguyên tắc được áp dụng cho cả tổ chức khu vực như là một tổng thế.
Những sản phẩm có xuất xứ được xuất khẩu từ một nước hưởng ưu đãi hoặc Cộng đồng châu Âu đến một nước khác và sau đó trở lại sẽ được coi là có xuất xứ từ nước hưởng ưu đãi, với điều kiện là trừ phi nó được chứng minh thoả đáng trước các cơ quan có thẩm quyền rằng:
§ Sản phẩm quay trở lại nước xuất khẩu y nguyên như khi chúng được xuất khẩu, và
§ Chúng chưa trải qua bất kỳ hoạt động nào ngoại trừ những hoạt động cần thiết để bảo quản hàng hóa trong điều kiện tốt trong khi ở nước khác hoặc khi đang được xuất khẩu.
Khu vực tự do là phần lãnh thổ của một nước sử dụng cho mục đích xuất xứ. Điều này nghĩa là hàng hoá được sản xuất trong khu vực tự do tại nước hưởng ưu đãi có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Cộng đồng châu Âu nhưng phải tuân theo những tiêu chuẩn xuất xứ để được như vậy.
Hàng hoá từ những nước hưởng lợi giữa đất liền cần thiết phải được vận chuyển thông qua một nước khác. Khi các tuyến vận chuyển đường thuỷ giữa nước hưởng lợi Cộng đồng châu Âu không sẵn, hoặc ví lí do giá cả, việc vận chuyển hàng hoá thông qua một nước khác cũng có thể cần thiết.
Để đảm bảo đạt được những mục tiêu đề ra những nguyên tắc vận chuyển trực tiếp yêu cầu hàng hoá phải:
o được vận chuyển từ nước xuất khẩu hưởng ưu đãi hưởng chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập đến Cộng đồng châu Âu (hoặc ngược lại) mà không đi qua lãnh thổ của bất kỳ nước nào khác; hoặc
o Nếu hàng hoá được vận chuyển như một hàng ký gửi qua một nước khác (với, nếu cần thiết, việc sang tàu hoặc xếp kho hay lưu giữ tạm thời tại nước đó), chúng vẫn chịu sự giám sát của cơ quan hải quan của nước đó. Hàng hoá không được phép trải qua bất kỳ hoạt động sản xuất nào tại đó trừ dỡ hàng, xếp hàng lại hoặc những hoạt động nhằm mục đích giữ chúng trong điều kiện tốt.
o Nếu chúng được vận chuyển qua Na-uy hoặc Thuỵ Sĩ (với, nếu cần thiết, việc sang tàu hoặc xếp kho hay lưu giữ tạm thời tại nước đó) và sau đó được xuất khẩu trờ lại nguyên vẹn hoặc từng phần vào Cộng đồng châu Âu, chúng vẫn chịu sự giám sát của cơ quan hải quan của Na-uy hoặc Thuỵ Sĩ. Hàng hoá không được phép trải qua bất kỳ hoạt động sản xuất nào tại đó trừ dỡ hàng, xếp hàng hoặc những hoạt động nhằm mục đích giữ chúng trong điều kiện tốt.
Thông thường khi hàng hoá được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu hưởng ưu đãi tới Cộng đồng châu Âu, không yêu cầu bằng chứng cụ thể nào ngoại trừ hoá đơn đường thuỷ hoặc đường không thông thường, trừ khi các cơ quan hải quan của Cộng đồng châu Âu có lý do để nghi ngờ rằng hàng hoá không được vận chuyển trực tiếp.
Nếu hàng hoá được vận chuyển thông qua một nước khác, trừ phi nước đó là một trong các nước thuộc cùng một tổ chức khu vực, nhà nhập khẩu vào Cộng đồng châu Âu sẽ bị yêu cầu trình diện bằng chứng rằng sản phẩm đáp ứng đủ những điều kiện đề ra.
Bằng chứng này có thể là:
· một tài liệu vận chuyển chỉ ra một hợp đồng vận chuyển hàng hoá từ nước xuất khẩu hưởng ưu đãi đến Cộng đồng châu Âu (ví dụ một hoá đơn vận chuyển đường thuỷ hoặc đường không ghi rõ đường đi qua nước quá cảnh),
hoặc
· một giấy chứng nhận (đôi khi được gọi là “giấy chứng nhận không bị sửa đổi”) cấp bởi cơ quan hải quan của nước quá cảnh.
· đưa ra mô tả chính xác của hàng hoá,
· nêu rõ ngày tháng dỡ hàng và xếp lại hàng hoặc khởi hành và đến đích, nhận dạng tàu chở hàng hoặc những phương tiện chuyên chở đã sử dụng khác, và
· chứng nhận rằng hàng hoá luôn được chịu sự giám sát hải quan và không trải qua bất kỳ hoạt động sản xuất nào ngoại trừ những hoạt động cần thiết để giữ chúng trong điều kiện tốt, hoặc
· bất kỳ tài liệu nào khác có khả năng xác nhận rằng những điều kiện đề ra đã được đáp ứng.
Ví dụ: Đối với hàng hoá có xuất xứ Trung Quốc được gửi qua Hồng Kông, có một hợp đồng với các nhà chức trách Trung Quốc, theo đó “Công ty trách nhiệm hữu hạn thanh tra Trung Quốc” (CICL) có dán tem Hồng Kông vào ô 4 của mẫu A được cấp bởi các nhà chức trách Trung Quốc nêu rằng “xác nhận hàng hoá nêu trong giấy chứng nhận này chưa chịu bất kỳ hoạt động sản xuất nào trong thời gian ở và chuyển tàu tại Hồng Kông”. Trong trường hợp này rõ ràng là mẫu A phải được chuyển đi cùng với hàng hoá.
Công ty chúng tôi mang hàng đi triển lãm sau khi triển lãm xong chúng tôi có bán cho khách nước ngoài xin cho hỏi xuất xứ hàng hóa như thế nào?
Trả lời:
Các sản phẩm có xuất xứ gửi từ nước hưởng ưu đãi để triển lãm tại một nước khác và được bán sau triển lãm để nhập khẩu vào Cộng đồng châu Âu có thể được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Cộng đồng châu Âu, tuỳ vào những điều kiện nhất định. Triển lãm có thể là triển lãm thương mại, công nghiệp, nông nghiệp hay thủ công, cũng có thể là hội chợ hoặc tương tự như buổi trưng bày trước công chúng, hoặc trưng bày được tổ chức không vì mục đích cá nhân trong cửa hàng hoặctrung tâm thương mại với mục đích bán các sản phẩm quốc tế, và trong thời gian đó các sản phẩm nằm trong sự kiểm soát hải quan. Sản phẩm phải đáp ứng những điều kiện cho phép chúng được công nhận là có xuất xứ từ nước hưởng ưu đãi. Đồng thời sản phẩm đó phải được trình bày thoả đáng với cơ quan hải quan có thẩm quyền của Cộng đồng châu Âu rằng:
(a) một nhà xuất khẩu đã gửi những sản phẩm này từ nước hưởng ưu đãi trực tiếp đến nước tổ chức triển lãm và đã triển lãm chúng tại đó;
(b) sản phẩm đã được bán hoặc đã bị bỏ đi bởi nhà xuất khẩu đó cho một người trong Cộng đồng châu Âu;
(c) sản phẩm đã được ký gửi trong thời gian triển lãm hoặc ngay sau đó tới Cộng đồng châu Âu trong tình trạng giống như khi chúng được gửi đi triển lãm;
(d) những sản phẩm chưa, từ khi được ký gửi để triển lãm, được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào ngoài việc trưng bày tại triển lãm.
Một giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A phải được nộp cho cơ quan hải quan Cộng đồng châu Âu theo cách thông thường. Tên và địa chỉ của triển lãm phải được nêu rõ trong đó. Nếu cần thiết, cơ quan hải quan có thể yêu cầu một số tài liệu bổ sung chứng minh về những tính chất cơ bản của sản phẩm và điều kiện nơi sản phẩm được triển lãm.
Giấy chứng nhận xuất xứ có hiệu lực trong bao lâu?
Trả lời:
Theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập Cộng đồng châu Âu, giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A, bản kê khai hoá đơn và giấy chứng nhận di chuyển EUR.1 đều có hiệu lực trong vòng 10 tháng kể từ ngày cấp giấy tại nước xuất khẩu. Trong khoảng thời gian này, chúng phải được trình diện cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, các chứng nhận xuất xứ trình diện cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu sau khi hết hiệu lực có thể được chấp nhận cho mục đích đăng ký hưởng ưu đãi thế quan nếu việc không nộp chúng kịp thời là do những hoàn cảnh ngoại lệ. Trong những trường hợp trình diện muộn khác, chúng có thể được chấp nhận nếu hàng hoá được trình diện trước ngày cuối cùng.
Trong một số hoàn cảnh nhất định, nếu hàng hoá được nhập khẩu trong khuôn khổ của lưu lượng mậu dịch thường xuyên và liên tục, có giá trị thương mại quan trọng, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nộp một chứng nhận xuất xứ riêng vào lần nhập khẩu của hàng ký gửi đầu tiên. Cơ quan hải quan sẽ công bố điều kiện, nhưng thời gian cho phép không được quá ba tháng. Cụ thể là hàng hoá phải đúng là đối tượng trong hợp đồng giao dịch (những bên liên quan trong nước xuất khẩu hoặc trong Cộng đồng châu Âu), được phân loại vào cùng một mã CN 8 chữ số, sở hữu độc quyền bởi cùng một nhà xuất khẩu, dành riêng cho cùng một nhà nhập khẩu, và được công nhận bởi cùng một cơ quan hải quan trong Cộng đồng châu Âu.
Nhà xuất khẩu, cơ quan cấp C/O phải lưu giữ những hồ sơ này và tất cả các hồ sơ chứng thực xuất xứ trong tối thiểu là 3 năm sao cho có thể tiến hành các cuộc kiểm tra xác minh rằng các quy tắc xuất xứ đã được đáp ứng dưới bất kì sự uỷ thác nào.
Xin cho hỏi công ty đã được cấp C/O nhưng không may bị thất lạc, vậy chúng tôi phải làm gì để được cấp C/O lại?
Trả lời:
Nếu C/O bị mất công ty làm công văn nêu rõ lý do xin cấp lại nếu bản C/O copy còn thì nộp lại cho Tổ cấp C/O đồng thời làm lại bộ hồ sơ đề nghị cấp C/O
o Nộp một bản Mẫu A hoàn chỉnh.
o Nộp bản phô tô của hoá đơn xuất khẩu và/ hoặc bất cứ bằng chứng xác nhận nào mà dựa trên đó Mẫu A gốc được ban hành.
Sau khi chứng thực rằng thông tin đã cung cấp trùng khớp với những gì trong hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành bản sao của Mẫu A dựa trên các tài liệu xuất khẩu mà họ sở hữu, nếu họ chấp nhận yêu cầu của bạn là chính đáng. Họ sẽ điền “Bản Sao” hoặc “Duplicata”, cùng ngày tháng cấp, số thứ tự của giấy chứng nhận gốc vào ô 4. Thời hạn có hiệu lực của giấy chứng nhận bản sao sẽ được tính từ ngày có hiệu lực của giấy chứng nhận gốc.
Từ Khóa Xuất Nhập Khẩu
- thuế quan
- công văn số 11276/bct/xnk
- ví dụ nguyên tắc chế độ ưu đãi phổ cập
- che do gsp cua eu gia tri xuat xuong la bao nhieu
- thue nhap khau thanh long eu
- thuc trang su dung gsp cua doanh nghiep viet nam
- lam sao de duoc huong uu dai gsp
- gsp moi quan tam cua doanh nghiep
- eu có uu dai thue quan pho cap gsp cho viet nam
- y nghia cua gsp doi voi doanh nghiep viet nam
