
Theo kết quả điều tra sơ bộ do Bộ Công thương tiến hành tại 200 thương nhân xuất khẩu (trong tổng số 35.000 thương nhân xuất khẩu), cho thấy có rất ít doanh nghiệp áp dụng chương trình thủ tục quản lý nợ/quản lý rủi ro thanh toán. Trong hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp này chủ yếu gặp rủi ro trong thương mại (68%), rủi ro liên quan đến ngân hàng (16%) và rủi ro chính trị (17%).
Như vậy, rủi ro là rất nhiều, nhất là các rủi ro thương mại, tuy nhiên chưa có doanh nghiệp nào tham gia BHTDXK. Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu mới chỉ tham gia bảo hiểm xuất khẩu hàng hóa, tức là bảo hiểm trong trường hợp hàng hoá bị tổn thất do một số nguyên nhân trong quá trình vận chuyển, bốc dỡ hàng.
Kết quả từ 98 phiếu điều tra do Bộ Công thương thực hiện cho thấy 95% doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu BHTDXK và đều cho rằng hình thức BHTDXK là cần thiết. Trong số các doanh nghiệp này, phần lớn (78%) muốn bảo hiểm rủi ro thương mại, 10% quan tâm đến rủi ro chính trị và 12% muốn tham gia các hình thức bảo hiểm rủi ro khác trong xuất khẩu (biến động về giá hàng hóa, tỷ giá).
Như vậy, khách quan cho thấy thực tế thị trường có nhu cầu và có tiềm năng về BHTDXK nhưng chưa có chính sách cụ thể của Nhà nước để thúc đẩy phát triển sản phẩm bảo hiểm này.
Nhận thức được vấn đề trên, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước và Văn phòng Chính phủ xây dựng đề án thí điểm BHTDXK. Bài nghiên cứu – trao đổi này muốn giới thiệu với bạn đọc về BHTDXK, kinh nghiệm quốc tế, thực trạng BHTDXK tại Việt Nam, định hướng, mục tiêu và giải pháp triển khai thí điểm.
1.Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (BHTDXK) là gì?
Ban đầu, BHTDXK là loại hình bảo hiểm nhằm bồi thường cho nhà xuất khẩu (ngân hàng nhà xuất khẩu) trước rủi ro khi nhà nhập khẩu (ngân hàng nhà nhập khẩu) không thanh toán khoản nợ cho nhà xuất khẩu (ngân hàng nhà xuất khẩu). Sau này, khi thị trường phát triển, BHTDXK là loại hình bảo hiểm nhằm cung cấp bồi thường tài chính về các khoản nợ khó đòi theo các hợp đồng mua bán, xuất nhập khẩu phát sinh do các rủi ro thương mại hoặc rủi ro chính trị trong giao dịch thương mại quốc tế.
BHTDXK là sản phẩm của thị trường tài chính, thuộc chuyên ngành bảo hiểm với vai trò bảo vệ nhà xuất khẩu trước rủi ro thương mại và rủi ro chính trị, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, đối với cả góc độ doanh nghiệp và quốc gia xuất khẩu, cụ thể:
- Đối với các doanh nghiệp, BHTDXK giúp:
+ Bảo vệ tài chính cho nhà xuất khẩu trong trường hợp nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán;
+ Tăng khả năng đi vay từ các tổ chức tín dụng do ngân hàng có thể cấp hoặc mở rộng tín dụng khoản vay dựa trên hợp đồng BHTDXK, từ đó giúp tổ chức xuất khẩu tăng lượng hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu;
+ Do DNBHTDXK là thành viên của các Hiệp hội bảo hiểm tín dụng quốc tế, có mạng lưới cung cấp dịch vụ thông tin trên toàn cầu nên có chức năng tư vấn rủi ro, cung cấp thông tin về quốc gia nhập khẩu và các đối tác nhập khẩu như một khoản giá trị gia tăng đối với bên mua bảo hiểm, từ đó giúp tổ chức xuất khẩu tăng khả năng tiếp cận đến thị trường quốc tế và chất lượng của hoạt động xuất khẩu.
- Đối với quốc gia xuất khẩu:
Do hoạt động xuất khẩu được bảo vệ an toàn, hiệu quả nên qua đó góp phần thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của quốc gia xuất khẩu.
2.Kinh nghiệm quốc tế
Tại các nước phát triển, BHTDXK được triển khai từ rất sớm, là cánh tay phải của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà xuất khẩu trước rủi ro thương mại và chính trị, qua đó góp phần thúc đẩy xuất khẩu. Vì vậy, phần lớn các nước phát triển đều có tổ chức chuyên về BHTDXK (gọi tắt là ECA).
Châu Âu là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động BHTDXK, chiếm trên 80% thị phần doanh thu phí BHTDXK toàn thế giới. Đến nay, có các tổ chức BHTDXK lớn như Coface của Pháp, Autradius của Hà Lan, Euler Hermes của Đức…
Tại các nước đang phát triển, BHTDXK ra đời muộn hơn, ví dụ như năm 1957, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập Công ty bảo lãnh tín dụng xuất khẩu (ECGC) 100% vốn nhà nước với chức năng chính là bảo vệ các nhà xuất khẩu trước các rủi ro về chính trị và thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá; hỗ trợ các nhà xuất khẩu tìm kiếm khách hàng và thị trường mới, triển khai sản phẩm mới và nâng cao khả năng vay vốn của các nhà xuất khẩu.
Tại Thái Lan, EXIM Thai được thành lập theo quy định của Luật Ngân hàng xuất nhập khẩu Thái Lan năm 1993 để cung cấp các dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng như BHTDXK (ngắn hạn, trung và dài hạn), đánh giá rủi ro ngân hàng/nhà nhập khẩu, bảo hiểm đầu tư.
Tại Trung Quốc, năm 2001, ngay sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã thành lập Tổ chức BHTDXK – SINOSURE vào tháng 12/2001 trên cơ sở sáp nhập hai phòng BHTDXK của Công ty bảo hiểm Nhân dân Trung Quốc (PICC) và Ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIM).
Cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, theo OECD, hoạt động BHTDXK phải bảo đảm nguyên tắc “không mang tính ưu đãi, hỗ trợ phát triển”. Vì vậy, mô hình hoạt động của các ECA từng bước được chuyển đổi từ cơ chế tài trợ nhà nước sang nguyên tắc kinh doanh thương mại theo cơ chế thị trường, nhiều ECA được cổ phần hoá hoặc không còn được Nhà nước tài trợ đối với hoạt động BHTDXK ngắn hạn.
Hiện nay, trên thế giới có 7 tổ chức triển khai BHTDXK lớn, bao gồm 5 ECA hàng đầu thế giới là Euler Hermes, Atradius, Coface, CESCE, Mapfre và 2 tập đoàn bảo hiểm lớn là AIG (Mỹ) và QBE (Úc). Các tổ chức này mở rộng triển khai BHTDXK trên toàn thế giới, có thể dưới hình thức mở chi nhánh, công ty con hay hợp tác nhận tái bảo hiểm với công ty bảo hiểm gốc tại nước sở tại. Sau đó, các ECA và DNBH thương mại (AIG, QBE) đều thực hiện nhượng tái cho các tổ chức tái bảo hiểm hàng đầu thế giới như MunichRe hay SwissRe.
Ở các nước, các tổ chức BHTDXK và các ngân hàng thương mại lớn đều liên kết chặt chẽ với nhau trong việc triển khai BHTDXK, ví dụ đối với ngân hàng, khi xem xét quyết định cho vay xuất khẩu đều yêu cầu các tổ chức xuất khẩu tham gia BHTDXK nhằm bảo toàn khoản vốn vay của họ. Trên cơ sở đó, các ngân hàng coi giá trị hợp đồng bảo hiểm như khoản bảo đảm tiền vay, đồng thời khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, DNBH thường chuyển thẳng cho ngân hàng khoản tiền bồi thường tương ứng với hợp đồng tín dụng của ngân hàng.
Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều tổ chức BHTDXK và nhận tái BHTDXK gặp thua lỗ. Hậu quả là các tổ chức này thắt chặt lại hoạt động BHTDXK, nhất là đối với các thị trường có nhiều rủi ro, đồng thời giảm các hoạt động hỗ trợ sang các thị trường mới nổi, giảm nhân sự làm việc trong lĩnh vực này trên toàn thế giới,..
Bên cạnh việc các tổ chức bảo hiểm tự áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động, Chính phủ của một số nước cũng đưa ra một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu qua BHTDXK.
- Tại Pháp, Chính phủ yêu cầu tất cả các tổ chức triển khai BHTDXK thương mại phải nâng hạn mức tín dụng được bảo hiểm để tạo điều kiện thuận lợi cho bên mua bảo hiểm;
- Tại Tây Ban Nha, tổ chức BHTDXK (SACE) được Chính phủ đứng sau với tư cách là nhà tái bảo hiểm: trường hợp tỷ lệ bồi thường của SACE vượt quá 85% (stoploss) thì Chính phủ sẽ bồi thường phần vượt quá.
- Tại Bồ Đào Nha, cách đây khoảng 2 năm, Euler Hermes mua một công ty BHTDXK tại đây. Tuy nhiên, hiện nay công ty này đã được quốc hữu hoá để thực hiện mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ;
- Tại Trung Quốc, để thúc đẩy xuất khẩu nông sản chất lượng cao, nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức xuất khẩu nông sản, Bộ Thương mại và Tổng công ty bảo hiểm tín dụng và xuất khẩu Trung Quốc (Sinosure) đã ban hành Thông tư về sử dụng BHTDXK để thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Trung Quốc.
- Tại Thái Lan, ngoài việc cấp vốn ban đầu và bù lỗ hoạt động cho EXIM Thái, tháng 4/2009, Bộ Tài chính vừa cấp 5 tỷ bạt cho ngân hàng này để phối hợp với 10 tổ chức tài chính và ngân hàng thương mại khác đẩy mạnh triển khai BHTDXK. Theo chương trình này, các tổ chức xuất khẩu là khách hàng của các ngân hàng thương mại dễ dàng tiếp cận với chương trình BHTDXK của EXIM Thái. Hơn nữa, do các khoản chi bồi thường sẽ được chuyển trả trực tiếp cho các ngân hàng cho vay nên các nhà xuất khẩu có thể mở rộng khoản tín dụng xuất khẩu vì có thể coi hợp đồng BHTDXK như một khoản bảo đảm.
- Tại Singapore, Chính phủ nhận bảo hiểm cho phần hạn mức tín dụng vượt quá 100% phần hạn mức tín dụng (top-up scheme) được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận (ví dụ, DNBH chỉ cho hạn mức tín dụng tối đa là 1 triệu đô la, Chính phủ sẽ bảo hiểm cho phần từ 1 triệu đến 2 triệu đô la).
3.Thực trạng BHTDXK tại Việt Nam
Hiện nay, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam có 28 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) với tổng nguồn vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ tính đến hết năm 2008 tương ứng là 11.638 tỷ đồng và 5.497 tỷ đồng. Các doanh nghiệp này có tổng cộng 372 chi nhánh, công ty thành viên và có trên 38.000 đại lý bảo hiểm.
Căn cứ vào Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm, BHTDXK là một loại hình của bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính – thuộc nghiệp vụ kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Theo Giấy phép thành lập và hoạt động do Bộ Tài chính cấp cho các DNBH, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai BHTDXK.
Tuy nhiên, hiện mới có 03 DNBH bắt đầu triển khai BHTDXK, bao gồm:
- Tổng công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí (PVI);
- Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh);
- Công ty TNHH bảo hiểm QBE (Việt Nam).
Cả 03 doanh nghiệp trên chưa có đội ngũ chuyên gia về BHTDXK, do vậy họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhà tái bảo hiểm nước ngoài từ khâu khai thác, đánh giá rủi ro, thẩm định bảo hiểm,.. và tái phần lớn dịch vụ nhận được cho nhà tái bảo hiểm nước ngoài.
Kết quả triển khai rất hạn chế, QBE có 02 hợp đồng với doanh thu phí BHTDXK là hơn 4 tỷ đồng, Bảo Minh có 06 hợp đồng với doanh thu phí BHTDXK là 3 tỷ đồng, PVI chưa ký được hợp đồng bảo hiểm nào. Ngoài ra, Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt (Bảo Việt) đang nghiên cứu để triển khai BHTDXK.
Như vậy, BHTDXK gần như chưa được triển khai tại Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến việc triển khai hạn chế xuất phát từ cả phía cơ quan Nhà nước, các thương nhân xuất khẩu và các doanh nghiệp bảo hiểm.
Về phía Nhà nước: Chưa có chính sách của Nhà nước để đầu tư, khuyến khích phát triển BHTDXK: đây là điều kiện tiên quyết đối với tất cả các quốc gia muốn đẩy mạnh xuất khẩu và hỗ trợ xuất khẩu an toàn.
Về phía thương nhân xuất khẩu:
+ Hiện đã và đang có một số hình thức hỗ trợ xuất khẩu an toàn hơn hoặc sẵn có theo thông lệ quốc tế, kết hợp với việc được trích lập dự phòng rủi ro hoặc bảo lãnh của Chính phủ đối với xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu theo Hợp đồng ký kết giữa các Chính phủ (như xuất khẩu gạo), đồng thời có một số hình thức thanh toán quốc tế khác có mức độ rủi ro thấp thay thế cho BHTDXK như khách hàng ứng trước, điện chuyển tiền hay mở thư tín dụng,.. nên các thương nhân xuất khẩu sử dụng các hình thức trên sẽ không có nhu cầu BHTDXK.
+ Nhận thức của các thương nhân xuất khẩu về vai trò của BHTDXK là rất hạn chế, đặc biệt là đối với các tổ chức xuất khẩu lớn, với bạn hàng lớn và có hệ số tín nhiệm tốt nên họ chủ quan cho rằng kinh nghiệm xuất khẩu nhiều năm thì rủi ro người mua không thanh toán hay phá sản rất thấp. Đồng thời, họ quan niệm mua BHTDXK sẽ làm tăng chi phí, dẫn đến tăng giá thành hàng hóa xuất khẩu mà chưa nhận thức được quyền lợi của mình nếu tham gia BHTDXK nên chưa hình thành thói quen và nhu cầu đối với loại hình bảo hiểm này.
+ Nếu phân tích theo nhóm ngành hàng thì mặt hàng nông sản chế biến (đặc biệt là gạo) chủ yếu giao dịch giữa các Chính phủ, nên rủi ro thương mại không có, và nhiều DNBH thương mại không bảo hiểm cho các giao dịch này; một số mặt hàng khác như cao su, cà phê,.. thì giao dịch trực tiếp hoặc xuất khẩu theo đường tiểu ngạch; đối với nhóm ngành hàng da giầy hoặc may mặc thì chủ yếu Việt Nam gia công theo đơn đặt hàng nên chỉ nhận phần chi phí gia công, không phát sinh nhiều rủi ro trong thanh toán quốc tế.
Về phía doanh nghiệp bảo hiểm:
+ BHTDXK khác với bảo hiểm thương mại truyền thống là bồi thường cho những thiệt hại từ rủi ro kinh doanh (như hối đoái, mất khả năng thanh toán) và rủi ro chính trị, không phải những rủi ro mang tính bất ngờ, không lường trước được như thiên tai, tai nạn … Như vậy, trong khi bảo hiểm thương mại phụ thuộc rất lớn vào công tác quản trị rủi ro tốt thì BHTDXK lại phụ thuộc rất lớn vào bên thứ ba, nên các doanh nghiệp bảo hiểm thông thường không dám mạo hiểm với sản phẩm này.
+ Hoạt động xuất khẩu liên quan hoạt động thương mại toàn cầu, nên đòi hỏi doanh nghiệp triển khai BHTDXK phải có hệ thống công nghệ thông tin tốt, dữ liệu về rủi ro đa dạng đối với từng quốc gia, từng lĩnh vực ngành hàng,.. mạng lưới giao dịch lớn trên thế giới, nguồn nhân lực có kinh nghiệm chuyên sâu về BHTDXK,… thì mới triển khai được sản phẩm BHTDXK. Đặc biệt, các tổ chức BHTDXK đã thành lập Hiệp hội các tổ chức BHTDXK – Berne Union. Các thành viên của hiệp hội được chia sẻ thông tin cập nhất nhất về rủi ro theo quốc gia, theo doanh nghiệp xuất khẩu, theo ngành hàng và dịch vụ hỗ trợ thu đòi nợ.
Tuy nhiên, muốn được là thành viên của hiệp hội này, các tổ chức BHTDXK phải đáp ứng các điều kiện rất nghiêm ngặt của Berne. Như vậy, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều, trong khi chưa chắc chắn có thể thu hồi được các khoản đầu tư này không.
+ Trong thời gian qua chỉ có một số doanh nghiệp đã gặp rủi ro trong hoạt động xuất khẩu tìm gặp doanh nghiệp bảo hiểm để yêu cầu BHTDXK. Do đó, nếu nhận bảo hiểm cho các đối tượng này thì xác suất xảy ra tổn thất là rất lớn, không đáp ứng nguyên tắc số đông bù số ít, nên không hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm.
Về phía các bên khác: BHTDXK liên quan chặt chẽ với ngân hàng, tuy nhiên các ngân hàng cũng chưa yêu cầu tổ chức sản xuất, xuất khẩu phải có BHTDXK như một khoản bảo đảm tiền vay. Sự phối hợp, gắn kết giữa ngân hàng và DNBH trong BHTDXK chưa được quan tâm.
Định hướng, mục tiêu và giải pháp triển khai thí điểm
Theo đề án triển khai thí điểm, sản phẩm bảo hiểm triển khai trước mắt sẽ là bảo hiểm tín dụng ngắn hạn (BHTDXK người bán);
Thời gian thí điểm trong 3 năm, từ năm 2011 đến cuối năm 2013; Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu được BHTDXK là 3%; ngành hàng được BHTDXK là 21 ngành hàng thuộc 2 nhóm hàng:
Nhóm 1: khuyến khích bảo hiểm cho các mặt hàng là thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, cao su, hạt tiêu, nhân điều, chè, sắn và sản phẩm từ sắn (đây là những mặt hàng chủ lực, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước).
Nhóm 2: khuyến khích bảo hiểm cho các mặt hàng là dệt may, giày dép, điện tử và linh kiện máy tính, gốm sứ, thuỷ tinh, mây tre cói và thảm, sản phẩm gỗ, sản phẩm chất dẻo, dây điện và cáp điện, xe đạp và phụ tùng, túi xách vali, mũ, ô dù, sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải.
Thiết kế sản phẩm và vai trò của DNBHDNBH được phép triển khai BHTDXK sẽ thiết kế sản phẩm bảo hiểm với các thông tin cơ bản như sau:
+ Đối tượng tham gia bảo hiểm
Theo đề xuất của Bộ Công thương, đối tượng tham gia bảo hiểm là các thương nhân xuất khẩu thuộc 21 ngành hàng của 2 nhóm hàng đã nêu ở phần trên. Rủi ro được bảo hiểm Tập trung vào các rủi ro thương mại liên quan trực tiếp đến hoạt động thanh toán giữa người mua và người bán, bảo vệ người xuất khẩu khỏi rủi ro không thu hồi được tiền hay hàng hoá đã xuất khẩu.
Ngoài ra, có thể xem xét bảo hiểm thêm rủi ro chính trị, nhưng loại trừ một số quốc gia có tình hình chính trị không ổn định như Irắc, Somali,..
+Phí bảo hiểm
Về nguyên tắc, phí bảo hiểm tương xứng với rủi ro; đủ bù đắp tổn thất dự kiến và chi quản lý. Có một số ý kiến đề nghị hỗ trợ phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm vì họ đã quen dùng hình thức thanh toán thư tín dụng và họ cho rằng việc mua bảo hiểm sẽ làm tăng thêm chi phí hàng hoá xuất khẩu.
Tuy nhiên, thông lệ quốc tế đã bỏ ưu đãi về phí bảo hiểm, ngoài ra cam kết WTO của Việt Nam cũng không cho phép hỗ trợ đối với các thương nhân xuất khẩu. Đề án này không xem xét hỗ trợ về phí bảo hiểm, mà khoản phí sẽ được tính toán theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế thì mới được các tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài chấp nhận.
Hỗ trợ đối với bên mua bảo hiểm sẽ được xem xét dưới hình thức khác và đề cập tại điểm 3.4 dưới đây.
+Phương án triển khai:
Để triển khai BHTDXK hiệu quả và tập trung nhất, các nước thường thành lập một tổ chức chuyên thực hiện BHTDXK. Tuy nhiên, với điều kiện của Việt Nam, việc thành lập riêng một tổ chức này không khả thi do đòi hỏi đầu tư rất lớn về ngân sách (riêng vốn cấp ban đầu tối thiểu 400 tỷ đồng, tương ứng với khả năng thanh toán của 1% tổng kim ngạch xuất khẩu được bảo hiểm, chưa kể các khoản đầu tư về cơ sở hạ tầng khác) và cần tối thiểu 3 năm để nghiên cứu thị trường, xây dựng kế hoạch kinh doanh, thiết lập bộ máy, tuyển dụng và đào tạo cán bộ, xây dựng toàn bộ các quy trình nghiệp vụ và tài chính,….
BHTDXK là một loại hình của bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, thuộc nghiệp vụ kinh doanh của các DNBH phi nhân thọ, do đó, để thực hiện được các mục tiêu và yêu cầu nêu trên, Bộ Tài chính đề xuất lựa chọn một số DNBH phi nhân thọ đủ điều kiện triển khai BHTDXK.
Các điều kiện bao gồm:
Nằm trong 5 DNBH phi nhân thọ đứng đầu thị trường về quy mô vốn chủ sở hữu (>1000 tỷ đồng), tổng dự phòng nghiệp vụ (>650 tỷ đồng) và mạng lưới hoạt động trên cả nước; hoặc là DNBH phi nhân thọ có cổ đông sáng lập hoặc chiếm trên 10% vốn điều lệ là 1 trong 10 ngân hàng thương mại có vốn chủ sở hữu hoặc số lượng khách hàng là tổ chức lớn nhất tại Việt Nam; hoặc là DNBH phi nhân thọ có công ty mẹ hoặc cổ đông lớn của công ty mẹ là DNBH chuyên về BHTDXK;
Có tình hình tài chính lành mạnh, có lãi trong 3 năm gần đây;
Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm do vi phạm các quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy trình nghiệp vụ.
Có quy trình khai thác, giảm định, bồi thường đối với sản phẩm BHTDXK;
Có Hợp đồng tái bảo hiểm đối với các dịch vụ BHTDXK, theo đó nhà tái bảo hiểm đứng đầu đáp ứng quy định tại Thông tư 155/2007/TT-BTC;
Quy tắc, điều khoản, biểu phí minh bạch, rõ ràng, công bằng, đáp ứng quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo hiểm cho các rủi ro tối thiểu nêu tại Đề án này;
Cam kết triển khai thí điểm BHTDXK và có trách nhiệm báo cáo đánh giá tình hình thực hiện.
4. Lộ trình thực hiện:
4.1. Giai đoạn đầu:
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai Đề án, bao gồm:
- Thuê tổ chức tư vấn quốc tế về BHTDXK thực hiện nghiên cứu, đánh giá khả năng triển khai BHTDXK của từng DNBH, lựa chọn doanh nghiệp đáp ứng điều kiện triển khai, thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm, chuyển giao công nghệ và cơ sở dữ liệu, đào tạo cán bộ,..
- Các DNBH được lựa chọn chuẩn bị các điều kiện cần thiết như đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, chuẩn bị nguồn nhân lực để triển khai BHTDXK, xây dựng các quy trình nghiệp vụ, chuẩn bị mạng lưới và kênh phân phối sản phẩm, chuẩn bị thiết lập mạng lưới thu đòi nợ…
4.2. Giai đoạn thực hiện:
- Đẩy mạnh tuyên truyền về BHTDXK;
- Các DNBH được lựa chọn bắt đầu triển khai bán BHTDXK;
- Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện, tháo gỡ những vướng mắc phát sinh (nếu có).
4.3. Giai đoạn kết thúc:
Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai thí điểm, kết hợp với việc sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ Tài chính sẽ bổ sung các quy định, chính sách về BHTDXK cũng như đề xuất phương hướng và giải pháp thực hiện BHTDXK trong thời gian tới (sau năm 2012).
Do đây là sản phẩm bảo hiểm tự nguyện nên không thể bắt buộc các thương nhân xuất khẩu tham gia BHTDXK, đồng thời cũng không thể bắt buộc các DNBH phải phải bán BHTDXK. Ngoài ra, qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá khả năng triển khai Đề án, Bộ Tài chính nhận thấy còn có một số khó khăn có thể gặp phải như:
- Đối với bên mua bảo hiểm: Khó chấp nhận ngay sản phẩm này, bởi vì từ trước đến nay họ chưa có thói quen mua BHTDXK do thường sử dụng các hình thức phòng ngừa rủi ro khác trong thanh toán quốc tế như thư tín dụng, ứng trước tiền….
Đồng thời, do chưa nhận thức được lợi ích của việc tham gia BHTDXK; hoặc chủ quan đánh giá độ tin cậy của bạn hàng nên thương nhân xuất khẩu có tâm lý không muốn tham gia BHTDXK.
Mặt khác, mới chỉ điều tra được 200 doanh nghiệp trên tổng số 35.000 thương nhân xuất khẩu nên chưa phản ánh đầy đủ được nhu cầu tham gia BHTDXK của các thương nhân xuất khẩu.
- Đối với DNBH: DNBH có thể muốn hoặc không muốn tham gia Đề án mặc dù đủ điều kiện, do phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh cũng như tính toán hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp. Ngoài ra, các đối tác nước ngoài hiện hữu của một số DNBH trong nước (Coface, Euler Hermes hay QBE) không muốn tiếp tục hợp tác với các DNBH trong nước do định hướng phát triển BHTDXK của Đề án và định hướng đối với thị trường Việt Nam của đối tác nước ngoài có thể khác nhau (về đối tượng khách hàng, về rủi ro bảo hiểm,..). Vì vậy, sự thành công của Đề án phụ thuộc rất lớn vào sự nỗ lực của các DNBH, chính sách của Nhà nước; hướng dẫn, chỉ đạo, tuyên truyền của cơ quan quản lý nhà nước và nhận thức của các thương nhân xuất khẩu.
Hơn nữa, BHTDXK chỉ là một trong những biện pháp gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Để chủ động triển khai Đề án theo kế hoạch nêu trên, đảm bảo tính khả thi của Đề án, Bộ Tài chính nhận thấy cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước như sau:
a. Đối với bên mua bảo hiểm: Theo các cam kết WTO, Việt Nam không được hỗ trợ về phí bảo hiểm đối với các thương nhân xuất khẩu, do vậy, có thể có các chính sách:
- Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại đơn giản hóa các thủ tục cho vay để xuất khẩu, chấp nhận hợp đồng BHTDXK như khoản đảm bảo tiền vay, cấp tín dụng tương đương với giá trị được bảo hiểm theo hợp đồng này;
- Định hướng các ngân hàng thương mại hợp tác với các DNBH trong việc hướng dẫn, tạo điều kiện cho các thương nhân vay vốn xuất khẩu mua BHTDXK. Đồng thời, khi xảy ra tổn thất, trong phạm vi số tiền bảo hiểm, DNBH sẽ chuyển trực tiếp khoản chi bồi thường cho ngân hàng, giúp ngân hàng nhanh chóng thu hồi khoản vay.
- Nhà nước định hướng để các thương nhân xuất khẩu tích cực tham gia BHTDXK;
b. Đối với bên bán bảo hiểm: Để hỗ trợ các DNBH tham gia triển khai thí điểm BHTDXK, Nhà nước có chính sách hỗ trợ chi phí cho giai đoạn đầu và hỗ trợ cho DNBH trong quá trình triển khai BHTDXK. Nguồn chi lấy từ Ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm, dự kiến như sau:
- Hỗ trợ chi phí cho giai đoạn đầu khi DNBH thuê tổ chức tư vấn nước ngoài đánh giá khả năng triển khai tại doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm, chuyển giao công nghệ và cơ sở dữ liệu, đào tạo cán bộ, ..
- Hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, khảo sát xây dựng Đề án, thông tin, tuyên truyền, chỉ đạo triển khai và tổng kết đánh giá Đề án.
- Hỗ trợ cho DNBH trong quá trình triển khai thí điểm: Dự kiến hỗ trợ cho DNBH có mức bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại trên doanh thu phí bảo hiểm giữ lại vượt quá một tỷ lệ nhất định theo thông báo của Bộ Tài chính.
Theo dự kiến, Thủ tướng Chính phủ sẽ sớm phê chuẩn việc triển khai thí điểm BHTDXK. Bộ Tài chính đang khẩn trương tính toán để bố trí NSNN, bên cạnh đó, Bộ Tài chính mong các DNBH phi nhân thọ tích cực nghiên cứu, đánh giá khả năng triển khai BHTDXK của mình, mạng lưới khách hàng tiềm năng, khả năng hỗ trợ từ các nhà tái bảo hiểm trong lĩnh vực này để có thể sẵn sàng triển khai thí điểm BHTDXK.
Từ Khóa Xuất Nhập Khẩu
- bảo hiểm
- Thư tín dụng
- Hãy nêu một ví dụ về rủi ro trong Thương mại điện tử tại Việt Nam Phân tích nguyên nhân và giải pháp
- tin dung xuat khau
- thue suat hang thu cong
- hãy nêu một ví dụ về rủi ro trong thương mại điện tử tại việt nam
- hang thu cong viet nam suat khau
- cong ty xuat nhap khau exim viet nam
- chứng từ vận tải đa phương thức trong thanh toán quốc tế
- các loại hình của bảo hiểm tín dụng

cho em hỏi khâu đánh giá rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa gồm những bước nào? em xin cảm ơn!